Sunday, September 30, 2012
Friday, September 14, 2012
Monday, September 3, 2012
THÁNH NHÂN TRẦN HƯNG ÐẠO THƯƠNG DÂN YÊU NƯỚC VÀ CON NGƯỜI GIAN MANH QUỈ QUYỆT BUÔN DÂN BÁN NƯỚC HỒ CHÍ MINH
“Viết để nhớ ơn Thầy Bu“
Dân và lịch sử không bao giờ lầm, nhất là về lâu dài. Ai có công thì được họ kính trọng, tôn thờ, nhiều khi được coi như thánh nhân, và họ tự làm giỗ để tưởng nhớ hàng năm. Ai có tội thì bị dân và lịch sử phỉ nhổ ngàn đời. Những bạo chúa thường bắt dân ca tụng, đúc tượng để thờ. Nhưng khi bạo chúa bị hạ bệ hay chế độ của họ bị sụp đổ, thì dân tự hạ hình, vứt tượng họ xuống đất. Ðiển hình là dân Việt từ hơn 700 năm nay đã tự động tôn Trần Hưng Ðạo lên làm thánh nhân và hàng năm tự động làm lễ để tưởng nhớ công đức, ghi ơn ngài. Ngược lại những bạo chúa như Staline và Sadam Hussein mà chúng ta đã có dịp thấy phản ứng phẫn nộ của dân trên truyền hình, khi chế độ cộng sản Liên Sô sụp đổ, khi Sadam Hussein bị hạ bệ. Người ta có thể nói Staline là người đã được các chính quyền và đảng cộng sản trên toàn thế giới tôn sùng nhiều nhất ; nhưng rồi hành động đồ tể của ông, một trong những kẻ giết người đứng đầu thế giới, cũng đã bị phơi bày và kết án.Sau khi đồ tể bị hạ bệ, không phải chỉ mình dân Nga kết án, mà cả thế giới phỉ nhổ. Sadam Hussein của Irak cũng vậy ! Chỉ giờ trước giờ sau, khi bạo chúa chạy trốn, thì dân Irak đã vứt hình, đạp tượng ông xuống đất.
Ngày hôm nay, chế độ bạo tàn cộng sản do Hồ chí Minh lập ra còn tồn tại ở Việt Nam, bắt dân Việt phải tôn thờ Hồ chí Minh. Nhưng ai cũng biết, nếu một ngày gần đây, chế độ này không còn nữa, thì người dân sẽ lập tức vứt hình, đạp tượng họ Hồ xuống đất. Ngay hiện tại người dân Việt đã phỉ nhổ Hồ chí Minh và chế độ qua những câu thơ, câu vè truyền khẩu. Có lẽ chưa bao giờ nước ta lại có một nền văn chương truyền khẩu chửi chế độ phong phú như ngày hôm nay !
Thật vậy, đức Trần hưng Ðạo quả thật là một vị thánh nhân thương dân, yêu nước, tài đức, văn võ kiêm toàn.
«Hưng đạo vương là một người danh tướng đệ nhất, đánh giặc Nguyên có công , được phong làm Thái sư, Thượng phụ, Thượng quốc công, Bình bắc đại nguyên súy, Hưng đạo đại vương....... Hưng đạo đại vương thực là hết lòng với vua, với nước, tuy rằng có quyền uy lừng lẫy, mà vẫn giữ chức phận làm tôi, không làm điều gì kiêu ngạo. Ðang khi quân Nguyên quấy nhiễu, ngài cầm binh quyền, Thánh tông, Nhân tông cho ngài được chuyên quyền phong tước : trừ ra từ tước hầu trở xuống, cho ngài được phong trước rồi mới tâu sau. Thế mà ngài không dám tự tiện phong thưởng cho ai cả ; phàm những nhà giàu mà ngài quyên tiền gạo để cấp cho quân ăn, ngài chỉ phong cho làm giả lang tướng mà thôi, nghĩa là tướng cho vay lương. Ngài cẩn thận như thế và ở với ai cũng công chính, cho nên đến khi ngài mất, từ vua cho chí bách tính ai cũng thương tiếc. Nhân dân nhiều nơi lập đền thờ phụng để ghi nhớ công đức của ngài. » ( Trần trọng Kim - Việt Nam Sử Lược - trang 160+161 - Nhà xuất bản Tân việt - Sài gòn).
Trần hưng Ðạo tên thật là Trần quốc Tuấn, con của An sinh vương Trần Liễu, cháu gọi Trần thái Tông là chú ruột, quê làng Tức mặc, huyện Mỹ lộc, tỉnh Nam định.Sử ghi Trần hưng đạo mất ngày 3/9/1300 dương lịch. Ngày sinh của ngài không rõ, nhưng nhiều sử gia cho rằng ngài sinh vào năm 1232. Khi quân Mông cổ xâm chiếm nước ta lần thứ nhất (1257), Trần hưng Ðạo mới khoảng 25 tuổi, và là một viên tướng nhỏ, có nhiệm vụ cầm quân án ngữ ở biên thùy phía bắc. Ba chục năm sau, khi quân Mông cổ xâm chiếm nước ta lầ thứ hai (1285) và lần thứ ba ( 1287), ngài được phong làm Quốc công tiết chế, thống lĩnh toàn bộ quân đội quốc gia để chống giặc. Quân Mông cổ là đòan quân mạnh nhất thế giới lúc bấy giờ, vó ngựa của chúng đã dẫm nát từ châu Á sang châu Âu, lập nên một đế quốc lớn nhất trong lịch sử nhân loại. Lực lượng chúng huy động vào xâm chiếm nước chúng ta rất đông đảo, và được chỉ huy bởi những tướng lừng danh, bách chiến bách thắng trên thế giới, đặt dưới sự lãnh đạo tối cao của Thoát Hoan, Thái tử Mông cổ.Thế lực quân Mông cổ cả hai lần đều rất đông, tổng cộng lên tới 60 vạn người, rất mạnh, làm nhiều người nao núng ; ngay cả vua Trần Nhân Tôn, vào lần thứ hai cũng lưỡng lự : «Hay ta tạm hàng để cứu muôn dân. » Trần hưng Ðạo đã khẳng khái trả lời : «Nếu bệ hạ muốn hàng, xin hãy chém đầu thần trước đã ! » Lợi dụng thế hiểm trở của đất nước, toàn dân toàn quân một lòng, Trần hưng Ðạo đã dùng chiến lược đoản trận đánh với trường trận. Ngài biết quân địch giỏi về thế trận dài và rộng, vì quân Mông cổ lúc bấy giờ đứng đầu thế giới về đi ngựa, bắn cung và đấu kiếm. Ngài dụ quân địch đi vào ngõ hẹp, chia quân địch ra từng khúc một để tiêu diệt. Ðó là đoản trận. Trong cuộc phản công lần thứ nhì 1285, ngài chém đầu Toa Ðô, Nguyên soái của Mông cổ, và khiến Thoát Hoan, Thái tử của Mông cổ, phải chui vào ống đồng, chạy thoát về Tàu. Lần thứ ba, 1287, Thoát Hoan phải cuống cuồng chạy trốn về Tàu mới toàn mạng, phần lớn các tướng Mông cổ hoặc bị bắt sống, hoặc bị chém đầu.
Trần hưng Ðạo là tướng đầu tiên trên thế giới đánh bại quân Mông cổ, bách chiến, bách thắng ở khắp nơi.
Ngoài sự nghiệp về quân sự, Trần hưng Ðạo còn có tài về văn học. Sách cũ ghi lại, ngay từ lúc 7 tuổi, ngài đã biết làm thơ. Ngoài việc là tác giả bản Hịch Tướng Sĩ, nổi tiếng, ngài còn là tác giả hai quyển tư tưởng về quân sự Binh Thư Yếu Lược và Vạn kiếp bí truyền.
Ðó là con người Trần hưng Ðạo, so với con người Hồ chí Minh, thì hoàn toàn trái ngược!
Hồ chí Minh, con người quỉ quyệt, ăn gian, nói dối vừa bẩm sinh, vừa tập thành.
Thật vậy, người ta có thể nói Hồ chí Minh là con người gian dối bẩm sinh. Ngay đến ngày sinh, năm sinh ông cũng dấu. Ông tự viết sách để tự khen mình, khác hẳn với đức tính khiêm tốn của đức Trần hưng Ðạo. Ông lấy bút hiệu Trần dân Tiên, tự viết về đời mình, tự khen mình, và còn đạo đức giả nói là Hồ chủ tịch không có thì giờ để trả lời phỏng vấn về đời tư. Ngày hôm nay người ta biết đại khái là họ Hồ sinh vào khoảng năm 1890, tại làng Kim liên, huyện Nam Ðàn, tỉnh Nghệ an. Hồ chí Minh có vào khoảng 50 tên khác nhau, đối xử tệ bạc với anh chị. Họ Hồ rời Việt Nam vào năm 1911, làm phụ bếp trên một chiếc tàu thủy Pháp, đi tìm đường nuôi thân. Thế mà chính họ Hồ trong quyển Cuộc Ðời Hồ chí Minh, tác giả Trần dân Tiên ( chính là Hồ chí Minh), và đảng Cộng sản Việt nam đã quỷ quyệt gian manh, nói dối là «Ði tìm đường cứu nước ». Thực sự là đi cứu thân, vì ông đã viết thư với lời lẽ tưng bốc nước đại Pháp để xin vào học trường thuộc địa. Năm 1912, ông viết thư cho Khâm sứ Pháp ở Huế, với lời lẽ quỵ lụy viên quan thuộc địa này, để xin cho cha ông bị triều đình cách chức vì đánh chết người, một chức như thừa biện ở các bộ hoặc huấn đạo hay quản giáo. Tên Nguyễn ái Quốc là tên ông đã ăn cắp từ tên chung mà các cụ Phan chu Trinh, Phan văn Trường, Nguyễn thế Truyền dùng để viết báo ở Paris. Tên Hồ chí Minh cũng là tên ăn cắp từ một tên người khác ở bên Tàu. Năm 1920, ông đi theo Ðệ Tam Quốc Tế Cộng sản, mặc dầu ông chưa phân biệt nổi giữa Ðệ Nhị và Ðệ Tam, do chính ông thú nhận, trong quyển của Trần dân Tiên. Vào những năm 20, chính cụ Phan bội Châu cũng đã được đại diện của Ðệ Tam gặp chiêu dụ ở bên Tàu ; nhưng sau khi biết rõ điều kiện mà tổ chức này đặt ra cho các hội viên là phải từ bỏ chủ nghĩa quốc gia, dân tộc, cụ Phan đã từ chối khéo. Ngược lại Hồ chí Minh lại chấp nhận và tự nguyện làm một đồ đệ trung thành mù quáng của Ðệ Tam, miễn sao thực hiện được tham vọng cá nhân của mình, bất chấp quyền lợi quốc gia, dân tộc. Suốt cuộc đời, Hồ chí Minh đã là đồ đệ trung thành của trường phái Staline, cứu cánh biện minh cho phương tiện, dùng bất cứ phương tiện nào để thực hiện mục đích của mình, ngay dù vô đạo đức, phản luân lý, hại quốc gia, phản dân tộc.
Ngoài việc gian dối bẩm sinh, Hồ chí Minh còn gian dối tập thành, được huấn luyện để trở thành gian dối.
Sau khi theo Ðệ Tam quốc tế , ông theo học trường Cộng sản Ðông phương, mà chương trình học phần chính là nói dối, tổ chức lén lút và phá hoại. Ðể được chấp nhận vào học, chỉ cần có chứng chỉ làm việc 2 năm ở một hãng xưởng. Bài học đầu tiên của nhà trường là học trò phải học nói dối : mỗi học viên phải tự làm cho mình 3 phiếu lý lịch khác nhau, để tùy cơ nói dối. Chương trình học sau đó có lý thuyết Mác Lê, một cách sơ khai và tóm lược, mà Hồ chí Minh đã sao chép lại trong quyển Ðường Kách Mạng của ông ( ở đây tôi dùng chữ K thay vì chữ C thường tình, vì đó chính là tên quyển sách viết như vậy, theo người cộng sản).Phần chính chương trình học còn lại là học tổ chức lén lút, bất hợp pháp, lén lút phá hoại, nói một cách khác đi là học phá hoại, giết người, không coi luật pháp và đạo đức luân lý là gì cả.
Hồ chí Minh, con người vọng ngoại chưa từng thấy trong lịch sử Việt nam và thế giới
Ðược Ðệ Tam Quốc tế phái về Việt Nam để sửa soạn cướp chính quyền vào năm 1941, họ Hồ sống ở Bắc Bó, và đã đặt tên ngọn núi gần chỗ ở là núi K. Marx và suối là suối Lénine. Ngay cả lúc gần chết, viết di chúc, họ Hồ cũng chỉ mơ ước được gặp cụ Marx, cụ Lénine, chứ không muốn gặp những vị anh hùng của dân tộc. Nếu chúng ta đọc lịch sử của các nước cộng sản trên thế giới từ Ðông Âu qua Trung cộng, chúng ta cũng không thấy có một người lãnh đạo cộng sản nào lại vọng ngoại như Hồ chí Minh.
Hồ chí Minh, con người bán nước
Ngày hôm nay người ta chỉ nghĩ tới Lê khả Phiêu, con người bán nước với hai Hiệp định ký kết với Trung cộng vào năm 1999 và 2000, dâng cho Trung cộng 800km2 lãnh thổ, mà trong đó có ải Nam quan và thác Bản giốc, cùng 16 000km2 vùng biển bắc Việt. Thực ra việc dâng đất cho Trung cộng đã có từ hồi họ Hồ còn sống. Vào năm 1953, khi sửa đường xe lửa ở vùng biên giới Việt-Hoa, Trung cộng đã tự tiện dời một số cột mốc về phía xâm lấn đất nước ta. Chính quyền Cộng sản Việt Nam có lên tiếng phản đối trên báo chí ; nhưng cũng chỉ phản đối cho lấy lệ. Ngày 4/9/1958, Trung cộng yêu sách quyền hải phận 12 hải lý, chỉ 10 ngày sau, tức ngày 14/9/1958, Phạm văn Ðồng, thủ tướng lúc bấy giờ, theo lệnh của Hồ chí Minh và Bộ Chính trị đảng Cộng sản Việt Nam, đã gửi một bức thư cho Chu ân Lai, Tổng lý quốc Vụ viện Trung cộng, tương đương với thủ tướng, thỏa mãn yêu sách của Trung cộng, có nghĩa là gián tiếp dâng 2 quần đảo Trường sa và Hoàng sa cho Trung cộng.
Hồ chí Minh, con người đưa dân tộc và đất nước vào vòng trầm luân, khổ ải chưa từng có trong lịch sử Việt
Ngày 19/8/1945, lợi dụng cuộc biểu tình của công chức Hà nội đòi tăng lương, Hồ chí Minh và đảng Cộng sản đã gửi người trà trộn vào đoàn biểu tình, đi đến chỗ cướp các công sở và cướp chính quyền. Ngày 2/9/1945, Hồ chí Minh tuyên bố « Ðộc lập ». Nhưng thực tế Hồ chí Minh đã làm hành động « Ðuổi hổ cửa trước, rồi dẫn báo vào cửa sau », chính thức đặt Việt Nam dưới gông cùm Ðệ Tam Quốc Tế Cộng Sản, đưa Việt Nam vào cuộc tranh hùng tư bản-cộng sản, làm dân Việt phải chịu bao gian khổ từ cuộc chiến tranh này tới cuộc chiến tranh khác. Không những ngoại chiến, mà còn nội chiến, nhập cảng lý thuyết Mác Lê, chủ trương bạo động lịch sử, đấu tranh giai cấp, đưa đến cảnh con đấu bố, vợ tố chồng, bạn bè tìm cách sát hại lẫn nhau. Dân Việt đã phải chịu cảnh đô hộ biết bao lần, đô hộ Tàu, đô hộ Pháp, đô hộ Nhật ; nhưng chưa bao giờ dân Việt phải bỏ nước ra đi cả triệu người, không phải 1 lần, mà 2 lần, như dưới thời đô hộ cộng sản.
Theo Tôn Tử, một nhà tư tưởng Tàu cách đây 2 500 năm : « Việc binh như lửa, dùng lâu ngày sẽ có hại vào thân... Việc binh kéo dài mà có lợi cho nước chưa từng có vậy ! » ( Tôn Ngô Binh Pháp- Ngô văn Triện dịch-trang 41). Hồ chí Minh và đảng Cộng sản chỉ nghĩ đến tham vọng cá nhân, cố làm vừa lòng Ðệ Tam Quốc Tế Cộng sản, thi hành bao cuộc chiến, mặc cho đất nước lầm than, dân phơi thây ngoài chiến trường, nhân lực và tài lực quốc gia khánh kiệt. Ở điểm này so với Trần hưng Ðạo, chúng ta mới thấy ngài thương dân, yêu nước. Lời trăn trối của ngài với vua Trần anh Tông là một bài học thương dân, yêu nước vô cùng quí giá : « Làm thế nào thu hút được quân lính như cha con một nhà mới có thể dùng để chiến thắng được. Và phải khoan dùng sức dân để làm cái kế sâu rễ bền gốc, đó là thượng sách giữ nước, không còn gì hơn. »(Trần hưng Ðạo-Binh thư yếu lược-trang 23-nhà xuất bản Quê Mẹ-Paris 1988.)
Ðọc đức Trần hưng Ðạo luận về tướng, chúng ta mới thấy rõ sự khác biệt giữa ngài và Hồ chí Minh:
« Khí tượng của tướng, lớn nhỏ khác nhau. Tướng mà che dấu điều gian, không nghĩ đến quần chúng oán ghét, đó là tướng chỉ huy mười người. Tướng mà dậy sớm khuya nằm, lời lẽ kín đáo, đó là tướng chỉ huy được trăm người. Tướng thẳng mà biết lo, mạnh mà giỏi đánh, đó là tướng chỉ huy được ngàn người. Tướng mà ngoài mặt hăm hở, trong lòng ân cần, biết người khó nhọc, thương kẻ đói rét, đó là tướng chỉ huy được vạn người. Tướng mà dùng nhân ái với kẻ dưới, lấy tín nghĩa phục kẻ láng giềng, trên biết thiên văn, dưới biết địa lý, giữa biết việc người, coi bốn bể như một nhà, đó là tướng chỉ huy cả thiên hạ « (Trần hưng Ðạo-Binh thư yếu lược-trang 15).
Hồ chí Minh là một người tướng che điều gian, giấu điều họa, không nghĩ đến quần chúng oán ghét. Hơn thế nữa, ông còn đày ài dân, bán nước, ông là một tội đồ của dân tộc, tội lớn hơn cả Mặc đăng Dung, Lê chiêu Thống. Ngược lại, đức Trần hưng Ðạo là một người tướng thương dân, yêu nước, dùng nhân ái với kẻ dưới, lấy tín nghĩa phục kẻ láng giềng, trên biết thiên văn, dưới thông địa lý, ngài quả là một vị tướng chỉ huy thiên hạ, không ai địch nổi.
Thế mà Hồ chí Minh lại hổn xược với ngài, gọi ngài bằng bác, xưng tôi, trong khi đó thì gọi Marx và Lénine bằng cụ.
Năm 1945, khi viếng thăm đền thờ đức thánh Trần, Hồ chí Minh đọc một bài thơ như sau. Có người bảo bài thơ này không do Hồ chí Minh làm. Ðây là một vấn đề chúng ta có dịp sẽ bàn sau. Nhưng dù sao Hồ chí Minh cũng đã đọc trong một dịp quan trọng, cũng nói lên tính hổn xược, ngông cuồng của ông.
«Về đường trí tuệ và tính tình, thì người Việt nam có cả tính tốt lẫn xấu. Ðại khái thì trí tuệ minh mẫn, học chóng hiểu, khéo chân tay, nhiều người sáng dạ, nhớ lâu, lại có tính hiếu học, quý sự lễ phép, mến điều đạo đức, lấy sự nhân nghĩa lễ trí tín làm 5 đạo thường cho sự ăn ở. Tuy nhiên vẫn có tính tinh vặt, cũng có khi quỷ quyệt,và hay bài bác, chế nhạo. Thường thì hay nhút , hay khiếp sợ và muốn sự hòa bình, nhưng đã đi đến trận mạc, thì cũng có can đảm, biết giữ kỉ luật. » (Trần trọng Kim-Việt nam sử lược-trang 18-nhà xuất bản Tân Việt-Sàigòn).
Chúng ta có thể nói đức Trần hưng Ðạo và những tướng tá nhà Trần, từ Trần quang Khải, tới Trần bình Trọng, Phạm ngũ Lão, là kết tinh của tất cả những tính tốt của dân Việt. Chính vì vậy mà triều đại nhà Trần là một trong những triều đại vẻ vang, thịnh trị, dân sống an bình và hạnh phúc nhất. Ngược lại Hồ chí Minh và giới lãnh đạo đảng Cộng sản Việt Nam là kết tinh tất cả những tính xấu xa của dân Việt. Vì vậy mà triều đại Hồ chí Minh là triều đại đen tối, bạo trị, dân sống đau khổ, lầm than chưa từng có trong lịch sử Việt.
Paris ngày 24/03/2004
Trực Ngôn Chu chi Nam
(Nguồn: Dien Dan Dan Chu)
Dân và lịch sử không bao giờ lầm, nhất là về lâu dài. Ai có công thì được họ kính trọng, tôn thờ, nhiều khi được coi như thánh nhân, và họ tự làm giỗ để tưởng nhớ hàng năm. Ai có tội thì bị dân và lịch sử phỉ nhổ ngàn đời. Những bạo chúa thường bắt dân ca tụng, đúc tượng để thờ. Nhưng khi bạo chúa bị hạ bệ hay chế độ của họ bị sụp đổ, thì dân tự hạ hình, vứt tượng họ xuống đất. Ðiển hình là dân Việt từ hơn 700 năm nay đã tự động tôn Trần Hưng Ðạo lên làm thánh nhân và hàng năm tự động làm lễ để tưởng nhớ công đức, ghi ơn ngài. Ngược lại những bạo chúa như Staline và Sadam Hussein mà chúng ta đã có dịp thấy phản ứng phẫn nộ của dân trên truyền hình, khi chế độ cộng sản Liên Sô sụp đổ, khi Sadam Hussein bị hạ bệ. Người ta có thể nói Staline là người đã được các chính quyền và đảng cộng sản trên toàn thế giới tôn sùng nhiều nhất ; nhưng rồi hành động đồ tể của ông, một trong những kẻ giết người đứng đầu thế giới, cũng đã bị phơi bày và kết án.Sau khi đồ tể bị hạ bệ, không phải chỉ mình dân Nga kết án, mà cả thế giới phỉ nhổ. Sadam Hussein của Irak cũng vậy ! Chỉ giờ trước giờ sau, khi bạo chúa chạy trốn, thì dân Irak đã vứt hình, đạp tượng ông xuống đất.
Ngày hôm nay, chế độ bạo tàn cộng sản do Hồ chí Minh lập ra còn tồn tại ở Việt Nam, bắt dân Việt phải tôn thờ Hồ chí Minh. Nhưng ai cũng biết, nếu một ngày gần đây, chế độ này không còn nữa, thì người dân sẽ lập tức vứt hình, đạp tượng họ Hồ xuống đất. Ngay hiện tại người dân Việt đã phỉ nhổ Hồ chí Minh và chế độ qua những câu thơ, câu vè truyền khẩu. Có lẽ chưa bao giờ nước ta lại có một nền văn chương truyền khẩu chửi chế độ phong phú như ngày hôm nay !
Thật vậy, đức Trần hưng Ðạo quả thật là một vị thánh nhân thương dân, yêu nước, tài đức, văn võ kiêm toàn.
«Hưng đạo vương là một người danh tướng đệ nhất, đánh giặc Nguyên có công , được phong làm Thái sư, Thượng phụ, Thượng quốc công, Bình bắc đại nguyên súy, Hưng đạo đại vương....... Hưng đạo đại vương thực là hết lòng với vua, với nước, tuy rằng có quyền uy lừng lẫy, mà vẫn giữ chức phận làm tôi, không làm điều gì kiêu ngạo. Ðang khi quân Nguyên quấy nhiễu, ngài cầm binh quyền, Thánh tông, Nhân tông cho ngài được chuyên quyền phong tước : trừ ra từ tước hầu trở xuống, cho ngài được phong trước rồi mới tâu sau. Thế mà ngài không dám tự tiện phong thưởng cho ai cả ; phàm những nhà giàu mà ngài quyên tiền gạo để cấp cho quân ăn, ngài chỉ phong cho làm giả lang tướng mà thôi, nghĩa là tướng cho vay lương. Ngài cẩn thận như thế và ở với ai cũng công chính, cho nên đến khi ngài mất, từ vua cho chí bách tính ai cũng thương tiếc. Nhân dân nhiều nơi lập đền thờ phụng để ghi nhớ công đức của ngài. » ( Trần trọng Kim - Việt Nam Sử Lược - trang 160+161 - Nhà xuất bản Tân việt - Sài gòn).
Trần hưng Ðạo tên thật là Trần quốc Tuấn, con của An sinh vương Trần Liễu, cháu gọi Trần thái Tông là chú ruột, quê làng Tức mặc, huyện Mỹ lộc, tỉnh Nam định.Sử ghi Trần hưng đạo mất ngày 3/9/1300 dương lịch. Ngày sinh của ngài không rõ, nhưng nhiều sử gia cho rằng ngài sinh vào năm 1232. Khi quân Mông cổ xâm chiếm nước ta lần thứ nhất (1257), Trần hưng Ðạo mới khoảng 25 tuổi, và là một viên tướng nhỏ, có nhiệm vụ cầm quân án ngữ ở biên thùy phía bắc. Ba chục năm sau, khi quân Mông cổ xâm chiếm nước ta lầ thứ hai (1285) và lần thứ ba ( 1287), ngài được phong làm Quốc công tiết chế, thống lĩnh toàn bộ quân đội quốc gia để chống giặc. Quân Mông cổ là đòan quân mạnh nhất thế giới lúc bấy giờ, vó ngựa của chúng đã dẫm nát từ châu Á sang châu Âu, lập nên một đế quốc lớn nhất trong lịch sử nhân loại. Lực lượng chúng huy động vào xâm chiếm nước chúng ta rất đông đảo, và được chỉ huy bởi những tướng lừng danh, bách chiến bách thắng trên thế giới, đặt dưới sự lãnh đạo tối cao của Thoát Hoan, Thái tử Mông cổ.Thế lực quân Mông cổ cả hai lần đều rất đông, tổng cộng lên tới 60 vạn người, rất mạnh, làm nhiều người nao núng ; ngay cả vua Trần Nhân Tôn, vào lần thứ hai cũng lưỡng lự : «Hay ta tạm hàng để cứu muôn dân. » Trần hưng Ðạo đã khẳng khái trả lời : «Nếu bệ hạ muốn hàng, xin hãy chém đầu thần trước đã ! » Lợi dụng thế hiểm trở của đất nước, toàn dân toàn quân một lòng, Trần hưng Ðạo đã dùng chiến lược đoản trận đánh với trường trận. Ngài biết quân địch giỏi về thế trận dài và rộng, vì quân Mông cổ lúc bấy giờ đứng đầu thế giới về đi ngựa, bắn cung và đấu kiếm. Ngài dụ quân địch đi vào ngõ hẹp, chia quân địch ra từng khúc một để tiêu diệt. Ðó là đoản trận. Trong cuộc phản công lần thứ nhì 1285, ngài chém đầu Toa Ðô, Nguyên soái của Mông cổ, và khiến Thoát Hoan, Thái tử của Mông cổ, phải chui vào ống đồng, chạy thoát về Tàu. Lần thứ ba, 1287, Thoát Hoan phải cuống cuồng chạy trốn về Tàu mới toàn mạng, phần lớn các tướng Mông cổ hoặc bị bắt sống, hoặc bị chém đầu.
Trần hưng Ðạo là tướng đầu tiên trên thế giới đánh bại quân Mông cổ, bách chiến, bách thắng ở khắp nơi.
Ngoài sự nghiệp về quân sự, Trần hưng Ðạo còn có tài về văn học. Sách cũ ghi lại, ngay từ lúc 7 tuổi, ngài đã biết làm thơ. Ngoài việc là tác giả bản Hịch Tướng Sĩ, nổi tiếng, ngài còn là tác giả hai quyển tư tưởng về quân sự Binh Thư Yếu Lược và Vạn kiếp bí truyền.
Ðó là con người Trần hưng Ðạo, so với con người Hồ chí Minh, thì hoàn toàn trái ngược!
Hồ chí Minh, con người quỉ quyệt, ăn gian, nói dối vừa bẩm sinh, vừa tập thành.
Thật vậy, người ta có thể nói Hồ chí Minh là con người gian dối bẩm sinh. Ngay đến ngày sinh, năm sinh ông cũng dấu. Ông tự viết sách để tự khen mình, khác hẳn với đức tính khiêm tốn của đức Trần hưng Ðạo. Ông lấy bút hiệu Trần dân Tiên, tự viết về đời mình, tự khen mình, và còn đạo đức giả nói là Hồ chủ tịch không có thì giờ để trả lời phỏng vấn về đời tư. Ngày hôm nay người ta biết đại khái là họ Hồ sinh vào khoảng năm 1890, tại làng Kim liên, huyện Nam Ðàn, tỉnh Nghệ an. Hồ chí Minh có vào khoảng 50 tên khác nhau, đối xử tệ bạc với anh chị. Họ Hồ rời Việt Nam vào năm 1911, làm phụ bếp trên một chiếc tàu thủy Pháp, đi tìm đường nuôi thân. Thế mà chính họ Hồ trong quyển Cuộc Ðời Hồ chí Minh, tác giả Trần dân Tiên ( chính là Hồ chí Minh), và đảng Cộng sản Việt nam đã quỷ quyệt gian manh, nói dối là «Ði tìm đường cứu nước ». Thực sự là đi cứu thân, vì ông đã viết thư với lời lẽ tưng bốc nước đại Pháp để xin vào học trường thuộc địa. Năm 1912, ông viết thư cho Khâm sứ Pháp ở Huế, với lời lẽ quỵ lụy viên quan thuộc địa này, để xin cho cha ông bị triều đình cách chức vì đánh chết người, một chức như thừa biện ở các bộ hoặc huấn đạo hay quản giáo. Tên Nguyễn ái Quốc là tên ông đã ăn cắp từ tên chung mà các cụ Phan chu Trinh, Phan văn Trường, Nguyễn thế Truyền dùng để viết báo ở Paris. Tên Hồ chí Minh cũng là tên ăn cắp từ một tên người khác ở bên Tàu. Năm 1920, ông đi theo Ðệ Tam Quốc Tế Cộng sản, mặc dầu ông chưa phân biệt nổi giữa Ðệ Nhị và Ðệ Tam, do chính ông thú nhận, trong quyển của Trần dân Tiên. Vào những năm 20, chính cụ Phan bội Châu cũng đã được đại diện của Ðệ Tam gặp chiêu dụ ở bên Tàu ; nhưng sau khi biết rõ điều kiện mà tổ chức này đặt ra cho các hội viên là phải từ bỏ chủ nghĩa quốc gia, dân tộc, cụ Phan đã từ chối khéo. Ngược lại Hồ chí Minh lại chấp nhận và tự nguyện làm một đồ đệ trung thành mù quáng của Ðệ Tam, miễn sao thực hiện được tham vọng cá nhân của mình, bất chấp quyền lợi quốc gia, dân tộc. Suốt cuộc đời, Hồ chí Minh đã là đồ đệ trung thành của trường phái Staline, cứu cánh biện minh cho phương tiện, dùng bất cứ phương tiện nào để thực hiện mục đích của mình, ngay dù vô đạo đức, phản luân lý, hại quốc gia, phản dân tộc.
Ngoài việc gian dối bẩm sinh, Hồ chí Minh còn gian dối tập thành, được huấn luyện để trở thành gian dối.
Sau khi theo Ðệ Tam quốc tế , ông theo học trường Cộng sản Ðông phương, mà chương trình học phần chính là nói dối, tổ chức lén lút và phá hoại. Ðể được chấp nhận vào học, chỉ cần có chứng chỉ làm việc 2 năm ở một hãng xưởng. Bài học đầu tiên của nhà trường là học trò phải học nói dối : mỗi học viên phải tự làm cho mình 3 phiếu lý lịch khác nhau, để tùy cơ nói dối. Chương trình học sau đó có lý thuyết Mác Lê, một cách sơ khai và tóm lược, mà Hồ chí Minh đã sao chép lại trong quyển Ðường Kách Mạng của ông ( ở đây tôi dùng chữ K thay vì chữ C thường tình, vì đó chính là tên quyển sách viết như vậy, theo người cộng sản).Phần chính chương trình học còn lại là học tổ chức lén lút, bất hợp pháp, lén lút phá hoại, nói một cách khác đi là học phá hoại, giết người, không coi luật pháp và đạo đức luân lý là gì cả.
Hồ chí Minh, con người vọng ngoại chưa từng thấy trong lịch sử Việt nam và thế giới
Ðược Ðệ Tam Quốc tế phái về Việt Nam để sửa soạn cướp chính quyền vào năm 1941, họ Hồ sống ở Bắc Bó, và đã đặt tên ngọn núi gần chỗ ở là núi K. Marx và suối là suối Lénine. Ngay cả lúc gần chết, viết di chúc, họ Hồ cũng chỉ mơ ước được gặp cụ Marx, cụ Lénine, chứ không muốn gặp những vị anh hùng của dân tộc. Nếu chúng ta đọc lịch sử của các nước cộng sản trên thế giới từ Ðông Âu qua Trung cộng, chúng ta cũng không thấy có một người lãnh đạo cộng sản nào lại vọng ngoại như Hồ chí Minh.
Hồ chí Minh, con người bán nước
Ngày hôm nay người ta chỉ nghĩ tới Lê khả Phiêu, con người bán nước với hai Hiệp định ký kết với Trung cộng vào năm 1999 và 2000, dâng cho Trung cộng 800km2 lãnh thổ, mà trong đó có ải Nam quan và thác Bản giốc, cùng 16 000km2 vùng biển bắc Việt. Thực ra việc dâng đất cho Trung cộng đã có từ hồi họ Hồ còn sống. Vào năm 1953, khi sửa đường xe lửa ở vùng biên giới Việt-Hoa, Trung cộng đã tự tiện dời một số cột mốc về phía xâm lấn đất nước ta. Chính quyền Cộng sản Việt Nam có lên tiếng phản đối trên báo chí ; nhưng cũng chỉ phản đối cho lấy lệ. Ngày 4/9/1958, Trung cộng yêu sách quyền hải phận 12 hải lý, chỉ 10 ngày sau, tức ngày 14/9/1958, Phạm văn Ðồng, thủ tướng lúc bấy giờ, theo lệnh của Hồ chí Minh và Bộ Chính trị đảng Cộng sản Việt Nam, đã gửi một bức thư cho Chu ân Lai, Tổng lý quốc Vụ viện Trung cộng, tương đương với thủ tướng, thỏa mãn yêu sách của Trung cộng, có nghĩa là gián tiếp dâng 2 quần đảo Trường sa và Hoàng sa cho Trung cộng.
Hồ chí Minh, con người đưa dân tộc và đất nước vào vòng trầm luân, khổ ải chưa từng có trong lịch sử Việt
Ngày 19/8/1945, lợi dụng cuộc biểu tình của công chức Hà nội đòi tăng lương, Hồ chí Minh và đảng Cộng sản đã gửi người trà trộn vào đoàn biểu tình, đi đến chỗ cướp các công sở và cướp chính quyền. Ngày 2/9/1945, Hồ chí Minh tuyên bố « Ðộc lập ». Nhưng thực tế Hồ chí Minh đã làm hành động « Ðuổi hổ cửa trước, rồi dẫn báo vào cửa sau », chính thức đặt Việt Nam dưới gông cùm Ðệ Tam Quốc Tế Cộng Sản, đưa Việt Nam vào cuộc tranh hùng tư bản-cộng sản, làm dân Việt phải chịu bao gian khổ từ cuộc chiến tranh này tới cuộc chiến tranh khác. Không những ngoại chiến, mà còn nội chiến, nhập cảng lý thuyết Mác Lê, chủ trương bạo động lịch sử, đấu tranh giai cấp, đưa đến cảnh con đấu bố, vợ tố chồng, bạn bè tìm cách sát hại lẫn nhau. Dân Việt đã phải chịu cảnh đô hộ biết bao lần, đô hộ Tàu, đô hộ Pháp, đô hộ Nhật ; nhưng chưa bao giờ dân Việt phải bỏ nước ra đi cả triệu người, không phải 1 lần, mà 2 lần, như dưới thời đô hộ cộng sản.
Theo Tôn Tử, một nhà tư tưởng Tàu cách đây 2 500 năm : « Việc binh như lửa, dùng lâu ngày sẽ có hại vào thân... Việc binh kéo dài mà có lợi cho nước chưa từng có vậy ! » ( Tôn Ngô Binh Pháp- Ngô văn Triện dịch-trang 41). Hồ chí Minh và đảng Cộng sản chỉ nghĩ đến tham vọng cá nhân, cố làm vừa lòng Ðệ Tam Quốc Tế Cộng sản, thi hành bao cuộc chiến, mặc cho đất nước lầm than, dân phơi thây ngoài chiến trường, nhân lực và tài lực quốc gia khánh kiệt. Ở điểm này so với Trần hưng Ðạo, chúng ta mới thấy ngài thương dân, yêu nước. Lời trăn trối của ngài với vua Trần anh Tông là một bài học thương dân, yêu nước vô cùng quí giá : « Làm thế nào thu hút được quân lính như cha con một nhà mới có thể dùng để chiến thắng được. Và phải khoan dùng sức dân để làm cái kế sâu rễ bền gốc, đó là thượng sách giữ nước, không còn gì hơn. »(Trần hưng Ðạo-Binh thư yếu lược-trang 23-nhà xuất bản Quê Mẹ-Paris 1988.)
Ðọc đức Trần hưng Ðạo luận về tướng, chúng ta mới thấy rõ sự khác biệt giữa ngài và Hồ chí Minh:
« Khí tượng của tướng, lớn nhỏ khác nhau. Tướng mà che dấu điều gian, không nghĩ đến quần chúng oán ghét, đó là tướng chỉ huy mười người. Tướng mà dậy sớm khuya nằm, lời lẽ kín đáo, đó là tướng chỉ huy được trăm người. Tướng thẳng mà biết lo, mạnh mà giỏi đánh, đó là tướng chỉ huy được ngàn người. Tướng mà ngoài mặt hăm hở, trong lòng ân cần, biết người khó nhọc, thương kẻ đói rét, đó là tướng chỉ huy được vạn người. Tướng mà dùng nhân ái với kẻ dưới, lấy tín nghĩa phục kẻ láng giềng, trên biết thiên văn, dưới biết địa lý, giữa biết việc người, coi bốn bể như một nhà, đó là tướng chỉ huy cả thiên hạ « (Trần hưng Ðạo-Binh thư yếu lược-trang 15).
Hồ chí Minh là một người tướng che điều gian, giấu điều họa, không nghĩ đến quần chúng oán ghét. Hơn thế nữa, ông còn đày ài dân, bán nước, ông là một tội đồ của dân tộc, tội lớn hơn cả Mặc đăng Dung, Lê chiêu Thống. Ngược lại, đức Trần hưng Ðạo là một người tướng thương dân, yêu nước, dùng nhân ái với kẻ dưới, lấy tín nghĩa phục kẻ láng giềng, trên biết thiên văn, dưới thông địa lý, ngài quả là một vị tướng chỉ huy thiên hạ, không ai địch nổi.
Thế mà Hồ chí Minh lại hổn xược với ngài, gọi ngài bằng bác, xưng tôi, trong khi đó thì gọi Marx và Lénine bằng cụ.
Năm 1945, khi viếng thăm đền thờ đức thánh Trần, Hồ chí Minh đọc một bài thơ như sau. Có người bảo bài thơ này không do Hồ chí Minh làm. Ðây là một vấn đề chúng ta có dịp sẽ bàn sau. Nhưng dù sao Hồ chí Minh cũng đã đọc trong một dịp quan trọng, cũng nói lên tính hổn xược, ngông cuồng của ông.
Cũng cờ cũng kiếm cũng anh hùng,Trần trọng Kim có nhận xét về người Việt Nam như sau:
Tôi bác chung nhau nợ núi sông.
Bác phá quân Nguyên thanh kiếm bạc,
Tôi trừ giặc Pháp ngọn cờ hồng.
Bác đưa một xứ qua nô lệ,
Tôi dắt năm châu tới đại đồng.
Bác có anh linh cười một tiếng,
Mừng tôi cách mạng đã thành công!
«Về đường trí tuệ và tính tình, thì người Việt nam có cả tính tốt lẫn xấu. Ðại khái thì trí tuệ minh mẫn, học chóng hiểu, khéo chân tay, nhiều người sáng dạ, nhớ lâu, lại có tính hiếu học, quý sự lễ phép, mến điều đạo đức, lấy sự nhân nghĩa lễ trí tín làm 5 đạo thường cho sự ăn ở. Tuy nhiên vẫn có tính tinh vặt, cũng có khi quỷ quyệt,và hay bài bác, chế nhạo. Thường thì hay nhút , hay khiếp sợ và muốn sự hòa bình, nhưng đã đi đến trận mạc, thì cũng có can đảm, biết giữ kỉ luật. » (Trần trọng Kim-Việt nam sử lược-trang 18-nhà xuất bản Tân Việt-Sàigòn).
Chúng ta có thể nói đức Trần hưng Ðạo và những tướng tá nhà Trần, từ Trần quang Khải, tới Trần bình Trọng, Phạm ngũ Lão, là kết tinh của tất cả những tính tốt của dân Việt. Chính vì vậy mà triều đại nhà Trần là một trong những triều đại vẻ vang, thịnh trị, dân sống an bình và hạnh phúc nhất. Ngược lại Hồ chí Minh và giới lãnh đạo đảng Cộng sản Việt Nam là kết tinh tất cả những tính xấu xa của dân Việt. Vì vậy mà triều đại Hồ chí Minh là triều đại đen tối, bạo trị, dân sống đau khổ, lầm than chưa từng có trong lịch sử Việt.
Paris ngày 24/03/2004
Trực Ngôn Chu chi Nam
(Nguồn: Dien Dan Dan Chu)
Phát hiện thêm hang Pác Bó của Bác
Tục ngữ Việt có câu “Cây kim trong túi lâu ngày cũng lòi ra.” Quả không sai. Công lao mấy chục năm nay, Đảng CSVN cố gắng xây dựng hình tượng ông Hồ như bậc thánh đã thành công cóc, vì người “láng giềng tốt” CS Trung Quốc bất ngờ công khai loan tin về 1 người vợ Trung Quốc Lâm Y Lan của ông Hồ trên báo Dương Thành Văn vào ngày 12 tháng 11 năm 2011, theo trang mạng Anh Ba Sàm hay vietsuky.wordpress cho biết trong một bản tin hôm Thứ Ba, 31-1-2012, dịch từ bản tin của báo Tàu.
Để cống hiến cho độc giả về tin hấp dẫn này, Việt Báo xin đăng nguyên văn bản tin từ trang mạng Anh Ba Sầm trích từ trang mạng http://vietsuky.wordpress.com/2012/01/31/63-mot-nguoi-vo-trung-quoc-khac-cua-ho-chi-minh/, như sau:
Dương Thành Vãn Báo (Báo Vãn Thành buổi chiều) 12-11-2011
Tác giả: Đinh Đông Văn
Trần Hiểu Nông ghi lại lời của cha là Trần Bá Đạt[1]: “Thời trẻ Hồ Chí Minh đã từng kết hôn. Vợ ông ta là một người Hạ Môn, nhưng đã mất rất sớm. Sau đó ông ta sống độc thân một thời gian rất dài. Sau khi cách mạng Việt Nam thắng lợi, ông muốn cưới một người Phúc Kiến làm vợ, nhưng Trung ương Đảng Việt Nam không đồng ý, ông không thể không phục tùng quyết định của Trung ương Đảng Việt Nam, vì vậy ông không bao giờ tái hôn nữa”.
Thực ra, người phụ nữ thứ nhất phải là Tăng Tuyết Minh. Người phụ nữ thứ hai là Lâm Y Lan.
Năm 1930, Hồ Chí Minh bị truy bắt ở Việt Nam, không chốn dung thân, thông qua liên lạc viên cầu sự trợ giúp từ Tỉnh ủy Quảng Đông Đảng Cộng sản Trung Quốc đang còn trong vòng bí mật. Đào Chú[2] bố trí cho nữ đảng viên Đảng cộng sản (Trung Quốc) Lâm Y Lan giả làm vợ Hồ Chí Minh, đồng thời dặn dò nhất thiết phải đảm bảo an toàn cho Hồ Chí Minh.
Lúc đó Hồ Chí Minh 40 tuổi, ông cảm thấy Lâm Y Lan đặc biệt giống người yêu Nguyễn Thanh Linh đã hi sinh, ông viết trong nhật ký: “Cô ta giống hệt Nguyễn Thanh Linh cả về lời nói cử chỉ lẫn tính cách sở thích. Ánh mắt vừa chạm nhau, tôi đã tự thấy mình sẽ không còn là một kẻ vô thần thuần túy nữa. Tôi cho đây tất cả đều là ý trời”.
Không lâu sau, Hồ Chí Minh bị bắt, trước lúc chia tay, ông lấy cuốn nhật ký của mình giao cho Lâm Y Lan và nói: “Anh để trái tim mình lại bên em, hãy nhận lấy đi!” Ba hôm sau, Hồ Chí Minh được giải cứu. Ông hỏi Lâm Y Lan: “Đọc xong nhật ký của anh rồi chứ gì! Anh tin rằng đóa hoa lan trong trái tim anh sẽ không bao giờ khô héo”. Lâm Y Lan không ngăn được tình cảm nhào vào lòng Hồ Chí Minh.
Vào những năm 50 của thế kỷ trước, Lâm Y Lan đã là cán bộ cao cấp, nhưng vẫn ở một mình. Khi Đào Chú quan tâm đến chuyện hôn nhân của bà, bà mới nói vẫn còn yêu Hồ Chí Minh. Đào Chú hỏi: “Ông ta có yêu bà không?” Đáp: “Ông ấy bảo tôi đợi ông”.
Hồ Chí Minh sang thăm Trung Quốc vào những năm 50, yêu cầu gặp lại người bạn cũ Lâm Y Lan. Mao Trạch Đông lập tức cho gọi Đào Chú và Lâm Y Lan lên Bắc Kinh. Đúng lúc Hồ Chí Minh chuẩn bị lên máy bay về nước, Lâm Y Lan chạy đến bên ông, hai đôi bàn tay nắm chặt lấy nhau. Trước khi máy bay cất cánh, Lâm Y Lan lấy cuốn nhật ký trả lại cho Hồ Chí Minh, nhưng Hồ Chí Minh nhẹ nhàng đẩy lại và nói: “Bên mình anh không có em, rất lâu rồi anh không còn viết nhật ký nữa, cứ để nó lưu lại nơi em làm kỷ niệm!”.
Năm 1958, Hồ Chí Minh 68 tuổi, có mời Đào Chú sang thăm cùng đi câu. Ông nói: “Tôi và Lâm Y Lan yêu nhau đã hơn 20 năm, vì sự nghiệp cách mạng mà đã lỡ tuổi thanh xuân. Bây giờ tuổi đã cao, muốn nhanh chóng được đoàn tụ với Y Lan. Mong anh khi về nước thử thăm dò thái độ của Chủ Tịch Mao Trạch Đông và Thủ tướng Chu Ân Lai xem sao, nếu họ tán thành, tôi muốn đưa Y Lan đến Hà Nội cử hành hôn lễ bí mật để thỏa nỗi mong muốn đã ấp ủ từ nhiều năm”.
Mao Trạch Đông nói: “Chúng ta khuyến khích tự do yêu đương, tự chủ hôn nhân. Thế nhưng việc này lại liên quan đến mối quan hệ giữa hai Đảng và hai nước Trung-Việt, không thể khinh suất được”. Còn khi Bộ chính trị Đảng cộng sản Việt Nam họp để thảo luận về việc này, số ý kiến phản đối đã vượt quá số ý kiến tán thành.
Hồ Chí Minh không biết làm thế nào đành viết thư cho Lâm Y Lan: “Y Lan thân yêu, chúng ta không có duyên tái hợp. Em đã nghe kể về tình yêu tinh thần của Plato chưa? Hãy để cho tâm hồn của hai chúng mình mãi mãi hòa làm một!”
Lâm Y Lan trả lời: Nếu là trên trời xin làm đôi chim liền cánh, nếu là dưới đất xin làm đôi cây giao cành. Trời dài đất rộng có lúc tận, còn mối tình này không bao giờ cạn. Năm 1968, Lâm Y Lan lâm bệnh mất. Trước lúc lâm chung, bà nhờ người gửi trả cuốn nhật ký cho Hồ Chí Minh. Một năm sau, Hồ Chí Minh cũng qua đời, trong lúc hấp hối vẫn còn gọi tên Lâm Y Lan.
(Trích từ “Tham khố văn sử” số 17 năm 2011)
[1] Trần Bá Đạt (1904 – 20.9.1989,
[2] Đào Chú
Trong khi đó một bản tin khác trên trang mạng http://baike.baidu.com cũng đăng tin về người vợ Trung Quốc Lâm Y Lan của ông Hồ. Bản tin trong trang mạng này cũng thuật lại cuộc tình của HCM và bà Lâm Y Lan như bản tin kể trên, nhưng có thêm một số chi tiết khá đặc biệt. Việt Báo xin trích vài đoạn để độc giả thưởng lãm như sau:
Sau khi Trung Quốc mới được thành lập, Hồ Chí Minh về nước tiếp tục sự nghiệp cách mạng còn chưa hoàn thành. Sau khi xa cách Lâm Y Lan, nỗi nhớ của Hồ Chí Minh ngày càng nặng thêm. Khi được mời đến thăm Trung Quốc, ông xin Mao Trạch Đông bố trí cho gặp lại bạn cũ ở Quảng Đông để ôn lại tình xưa. Mao Trạch Đông lập tức gọi điện cho Tỉnh ủy Quảng Đông, Đào Chú và Lâm Y Lan… đến Bắc Kinh gặp mặt Hồ Chí Minh. Đúng lúc Hồ Chí Minh chuẩn bị lên máy bay về nước, ông thấy Lâm Y Lan chạy về phía mình. Hai người đắm đuối nhìn nhau rất lâu và đều không ngăn được những dòng lệ.
Năm 1958, Hồ Chí Minh trịnh trọng nói với Đào Chú nguyện vọng muốn đón Lâm Y Lan đến Hà Nội để cử hành hôn lễ bí mật. Sau khi về đến Bắc Kinh, Đào Chú chuyển ý của Hồ Chí Minh lên Trung ương Đảng và Mao Chủ tịch. Mao Chủ tịch trầm ngân giây lát rồi nói: “Cá nhân tôi ủng hộ lời yêu cầu của Chủ tịch Hồ Chí Minh, thế nhưng việc này lại liên quan đến mối quan hệ giữa hai Đảng và hai nước Trung-Việt, nên không thể khinh suất được”. Chu Ân Lai cũng nói: “Nên bàn bạc với các đồng chí bên Đảng Cộng Sản Việt Nam một chút, nếu như họ đồng ý, thì chúng ta quyết không làm hòn đá cản đường”.
Thế nhưng, trong phòng họp của Bộ Chính trị Trung ương Đảng Bắc Việt, một vị lãnh đạo Đảng cộng sản Việt Nam (Lê Duẩn) đã điềm tĩnh nói với Hồ Chí Minh: “Anh đã từng nói rằng Việt Nam còn chưa giải phóng thì anh sẽ suốt đời không lấy vợ, câu nói này có ảnh hưởng rất lớn, một khi Bác đã phản bội lại lời hứa đó, thì có nghĩa là chúng ta đã từ bỏ sự nghiệp thiêng liêng giải phóng Miền Nam, điều này không chỉ làm tổn hại đến hình tượng Cha già dân tộc của anh, mà ngay cả Đảng cộng sản Việt Nam cũng sẽ vì thế mà mất hết sạch danh tiếng. Cho nên, tôi thà bị anh trách móc, thù ghét, chứ không thể để cho dân chúng Việt Nam chửi mắng chúng ta là kẻ tội nhân ngàn đời”.
Nghe xong, Hồ Chí Minh vô cùng nản lòng, cười một cách đau khổ, bỏ chỗ ngồi đi ra… Lâm Y Lan lúc này đang nằm trong bệnh viện thành phố của Quảng Châu mỏi mắt trông chờ, rồi điều bà trông đợi lại là một mẩu thư ngắn của Hồ Chí Minh: “Y Lan thân yêu, chúng mình không có duyên tái hợp. Em đã nghe tình yêu tinh thần của Plato chưa? Xin hãy để linh hồn của hai đứa chúng ta mãi mãi hòa làm một!” Y Lan đặt lá thư lên bậu cửa sổ, để cho gió lành cuốn nó đi. Bà nhìn theo lá thư bay lượn trong gió, lặng khóc thầm. Mối tình giữa Hồ Chí Minh và Y Lan đã đánh một cú quá lớn vào tinh thần Y Lan, bệnh tình của bà bắt đầu trở nên xấu đi năm 1968, Lâm Y Lan mất, trước lúc lâm chung, bà còn không quên nhờ người giao trả lại cuốn “Nhật ký tình yêu” mà Hồ Chí Minh đã tặng cho mình, đồng thời dặn lại ông hãy ghìm nén nỗi đau. Hồ Chí Minh đã sốc khi nhận được tin người yêu mất, đau đớn chẳng muốn sống, nước mắt giàn giụa… Sau đó một năm, cũng chính là vào sáng sớm ngày 2 tháng 9 năm 1969, Hồ Chí Minh cũng đã qua đời. Trong lúc hấp hối, ông còn đã gọi tên Lâm Y Lan…
(Trung Quốc) Bách Độ Bách Khoa.
Để cống hiến cho độc giả về tin hấp dẫn này, Việt Báo xin đăng nguyên văn bản tin từ trang mạng Anh Ba Sầm trích từ trang mạng http://vietsuky.wordpress.com/2012/01/31/63-mot-nguoi-vo-trung-quoc-khac-cua-ho-chi-minh/, như sau:
Một người vợ Trung Quốc khác của Hồ Chí Minh
Phát hiện thêm hang Pác Bó của Bác
Dương Thành Vãn Báo (Báo Vãn Thành buổi chiều) 12-11-2011
Tác giả: Đinh Đông Văn
Trần Hiểu Nông ghi lại lời của cha là Trần Bá Đạt[1]: “Thời trẻ Hồ Chí Minh đã từng kết hôn. Vợ ông ta là một người Hạ Môn, nhưng đã mất rất sớm. Sau đó ông ta sống độc thân một thời gian rất dài. Sau khi cách mạng Việt Nam thắng lợi, ông muốn cưới một người Phúc Kiến làm vợ, nhưng Trung ương Đảng Việt Nam không đồng ý, ông không thể không phục tùng quyết định của Trung ương Đảng Việt Nam, vì vậy ông không bao giờ tái hôn nữa”.
Thực ra, người phụ nữ thứ nhất phải là Tăng Tuyết Minh. Người phụ nữ thứ hai là Lâm Y Lan.
Năm 1930, Hồ Chí Minh bị truy bắt ở Việt Nam, không chốn dung thân, thông qua liên lạc viên cầu sự trợ giúp từ Tỉnh ủy Quảng Đông Đảng Cộng sản Trung Quốc đang còn trong vòng bí mật. Đào Chú[2] bố trí cho nữ đảng viên Đảng cộng sản (Trung Quốc) Lâm Y Lan giả làm vợ Hồ Chí Minh, đồng thời dặn dò nhất thiết phải đảm bảo an toàn cho Hồ Chí Minh.
Lúc đó Hồ Chí Minh 40 tuổi, ông cảm thấy Lâm Y Lan đặc biệt giống người yêu Nguyễn Thanh Linh đã hi sinh, ông viết trong nhật ký: “Cô ta giống hệt Nguyễn Thanh Linh cả về lời nói cử chỉ lẫn tính cách sở thích. Ánh mắt vừa chạm nhau, tôi đã tự thấy mình sẽ không còn là một kẻ vô thần thuần túy nữa. Tôi cho đây tất cả đều là ý trời”.
Không lâu sau, Hồ Chí Minh bị bắt, trước lúc chia tay, ông lấy cuốn nhật ký của mình giao cho Lâm Y Lan và nói: “Anh để trái tim mình lại bên em, hãy nhận lấy đi!” Ba hôm sau, Hồ Chí Minh được giải cứu. Ông hỏi Lâm Y Lan: “Đọc xong nhật ký của anh rồi chứ gì! Anh tin rằng đóa hoa lan trong trái tim anh sẽ không bao giờ khô héo”. Lâm Y Lan không ngăn được tình cảm nhào vào lòng Hồ Chí Minh.
Vào những năm 50 của thế kỷ trước, Lâm Y Lan đã là cán bộ cao cấp, nhưng vẫn ở một mình. Khi Đào Chú quan tâm đến chuyện hôn nhân của bà, bà mới nói vẫn còn yêu Hồ Chí Minh. Đào Chú hỏi: “Ông ta có yêu bà không?” Đáp: “Ông ấy bảo tôi đợi ông”.
Hồ Chí Minh sang thăm Trung Quốc vào những năm 50, yêu cầu gặp lại người bạn cũ Lâm Y Lan. Mao Trạch Đông lập tức cho gọi Đào Chú và Lâm Y Lan lên Bắc Kinh. Đúng lúc Hồ Chí Minh chuẩn bị lên máy bay về nước, Lâm Y Lan chạy đến bên ông, hai đôi bàn tay nắm chặt lấy nhau. Trước khi máy bay cất cánh, Lâm Y Lan lấy cuốn nhật ký trả lại cho Hồ Chí Minh, nhưng Hồ Chí Minh nhẹ nhàng đẩy lại và nói: “Bên mình anh không có em, rất lâu rồi anh không còn viết nhật ký nữa, cứ để nó lưu lại nơi em làm kỷ niệm!”.
Năm 1958, Hồ Chí Minh 68 tuổi, có mời Đào Chú sang thăm cùng đi câu. Ông nói: “Tôi và Lâm Y Lan yêu nhau đã hơn 20 năm, vì sự nghiệp cách mạng mà đã lỡ tuổi thanh xuân. Bây giờ tuổi đã cao, muốn nhanh chóng được đoàn tụ với Y Lan. Mong anh khi về nước thử thăm dò thái độ của Chủ Tịch Mao Trạch Đông và Thủ tướng Chu Ân Lai xem sao, nếu họ tán thành, tôi muốn đưa Y Lan đến Hà Nội cử hành hôn lễ bí mật để thỏa nỗi mong muốn đã ấp ủ từ nhiều năm”.
Mao Trạch Đông nói: “Chúng ta khuyến khích tự do yêu đương, tự chủ hôn nhân. Thế nhưng việc này lại liên quan đến mối quan hệ giữa hai Đảng và hai nước Trung-Việt, không thể khinh suất được”. Còn khi Bộ chính trị Đảng cộng sản Việt Nam họp để thảo luận về việc này, số ý kiến phản đối đã vượt quá số ý kiến tán thành.
Hồ Chí Minh không biết làm thế nào đành viết thư cho Lâm Y Lan: “Y Lan thân yêu, chúng ta không có duyên tái hợp. Em đã nghe kể về tình yêu tinh thần của Plato chưa? Hãy để cho tâm hồn của hai chúng mình mãi mãi hòa làm một!”
Lâm Y Lan trả lời: Nếu là trên trời xin làm đôi chim liền cánh, nếu là dưới đất xin làm đôi cây giao cành. Trời dài đất rộng có lúc tận, còn mối tình này không bao giờ cạn. Năm 1968, Lâm Y Lan lâm bệnh mất. Trước lúc lâm chung, bà nhờ người gửi trả cuốn nhật ký cho Hồ Chí Minh. Một năm sau, Hồ Chí Minh cũng qua đời, trong lúc hấp hối vẫn còn gọi tên Lâm Y Lan.
(Trích từ “Tham khố văn sử” số 17 năm 2011)
[1] Trần Bá Đạt (1904 – 20.9.1989,
[2] Đào Chú
Trong khi đó một bản tin khác trên trang mạng http://baike.baidu.com cũng đăng tin về người vợ Trung Quốc Lâm Y Lan của ông Hồ. Bản tin trong trang mạng này cũng thuật lại cuộc tình của HCM và bà Lâm Y Lan như bản tin kể trên, nhưng có thêm một số chi tiết khá đặc biệt. Việt Báo xin trích vài đoạn để độc giả thưởng lãm như sau:
Sau khi Trung Quốc mới được thành lập, Hồ Chí Minh về nước tiếp tục sự nghiệp cách mạng còn chưa hoàn thành. Sau khi xa cách Lâm Y Lan, nỗi nhớ của Hồ Chí Minh ngày càng nặng thêm. Khi được mời đến thăm Trung Quốc, ông xin Mao Trạch Đông bố trí cho gặp lại bạn cũ ở Quảng Đông để ôn lại tình xưa. Mao Trạch Đông lập tức gọi điện cho Tỉnh ủy Quảng Đông, Đào Chú và Lâm Y Lan… đến Bắc Kinh gặp mặt Hồ Chí Minh. Đúng lúc Hồ Chí Minh chuẩn bị lên máy bay về nước, ông thấy Lâm Y Lan chạy về phía mình. Hai người đắm đuối nhìn nhau rất lâu và đều không ngăn được những dòng lệ.
Năm 1958, Hồ Chí Minh trịnh trọng nói với Đào Chú nguyện vọng muốn đón Lâm Y Lan đến Hà Nội để cử hành hôn lễ bí mật. Sau khi về đến Bắc Kinh, Đào Chú chuyển ý của Hồ Chí Minh lên Trung ương Đảng và Mao Chủ tịch. Mao Chủ tịch trầm ngân giây lát rồi nói: “Cá nhân tôi ủng hộ lời yêu cầu của Chủ tịch Hồ Chí Minh, thế nhưng việc này lại liên quan đến mối quan hệ giữa hai Đảng và hai nước Trung-Việt, nên không thể khinh suất được”. Chu Ân Lai cũng nói: “Nên bàn bạc với các đồng chí bên Đảng Cộng Sản Việt Nam một chút, nếu như họ đồng ý, thì chúng ta quyết không làm hòn đá cản đường”.
Thế nhưng, trong phòng họp của Bộ Chính trị Trung ương Đảng Bắc Việt, một vị lãnh đạo Đảng cộng sản Việt Nam (Lê Duẩn) đã điềm tĩnh nói với Hồ Chí Minh: “Anh đã từng nói rằng Việt Nam còn chưa giải phóng thì anh sẽ suốt đời không lấy vợ, câu nói này có ảnh hưởng rất lớn, một khi Bác đã phản bội lại lời hứa đó, thì có nghĩa là chúng ta đã từ bỏ sự nghiệp thiêng liêng giải phóng Miền Nam, điều này không chỉ làm tổn hại đến hình tượng Cha già dân tộc của anh, mà ngay cả Đảng cộng sản Việt Nam cũng sẽ vì thế mà mất hết sạch danh tiếng. Cho nên, tôi thà bị anh trách móc, thù ghét, chứ không thể để cho dân chúng Việt Nam chửi mắng chúng ta là kẻ tội nhân ngàn đời”.
Nghe xong, Hồ Chí Minh vô cùng nản lòng, cười một cách đau khổ, bỏ chỗ ngồi đi ra… Lâm Y Lan lúc này đang nằm trong bệnh viện thành phố của Quảng Châu mỏi mắt trông chờ, rồi điều bà trông đợi lại là một mẩu thư ngắn của Hồ Chí Minh: “Y Lan thân yêu, chúng mình không có duyên tái hợp. Em đã nghe tình yêu tinh thần của Plato chưa? Xin hãy để linh hồn của hai đứa chúng ta mãi mãi hòa làm một!” Y Lan đặt lá thư lên bậu cửa sổ, để cho gió lành cuốn nó đi. Bà nhìn theo lá thư bay lượn trong gió, lặng khóc thầm. Mối tình giữa Hồ Chí Minh và Y Lan đã đánh một cú quá lớn vào tinh thần Y Lan, bệnh tình của bà bắt đầu trở nên xấu đi năm 1968, Lâm Y Lan mất, trước lúc lâm chung, bà còn không quên nhờ người giao trả lại cuốn “Nhật ký tình yêu” mà Hồ Chí Minh đã tặng cho mình, đồng thời dặn lại ông hãy ghìm nén nỗi đau. Hồ Chí Minh đã sốc khi nhận được tin người yêu mất, đau đớn chẳng muốn sống, nước mắt giàn giụa… Sau đó một năm, cũng chính là vào sáng sớm ngày 2 tháng 9 năm 1969, Hồ Chí Minh cũng đã qua đời. Trong lúc hấp hối, ông còn đã gọi tên Lâm Y Lan…
(Trung Quốc) Bách Độ Bách Khoa.
Những câu nói về người CS
Buddha (563BC-483BC)
Three things cannot be long hidden: the sun, the moon, and the truth.
Ba điều không thể che dấu được lâu, đó là: mặt trời, mặt trăng và sự-thật
President Abraham Lincoln
You can fool some of the people all the time, and all of the people some of the time,
but you cannot fool all of the people all the time
Anh có thể lừa dối một số người trong mọi lúc, và lừa dối hết mọi người trong vài lúc,
nhưng anh không thể mãi mãi lừa dối tất cả mọi người.
President Nguyễn Văn Thiệu:
Don’t listen to the communists, but take a good look at what they have done.
Đừng nghe những gì Cộng Sản nói, hãy nhìn kỹ những gì Cộng Sản làm
German Chancellor Angela Merkel:
The communists make the people deceitful
Cộng Sản đã làm cho người dân trở thành gian dối
General Sheridan:
The only good communist is a dead communist
Người Cộng Sản tốt duy nhất là người Cộng Sản chết
Russia President: Vladimir Putin:
He who believes in the communism has no brain
He who follows the communism has no heart.
Kẻ nào tin những gì Cộng Sản nói, là không có cái đầu
Kẻ nào làm theo lời của Cộng Sản, là không có trái tim
Russia President: Boris Yeltsin:
Communists are incurable, they must be eradicated.
Cộng Sản không thể nào sửa chửa, mà cần phải đào thải nó.
Gugoslavia Secretary General: Milovan Djilas:
At 20, if you are not a communist, you are heartless
At 40, if you don’t abandon communism, you are brainless
20 tuổi mà không theo Cộng Sản, là không có trái tim
40 tuổi mà không từ bỏ Cộng Sản, là không có cái đầu
Soviet Secretary General: Mr. Mikhail Gorbachev:
I have devoted half of my life for communism.
Today, I am sad to say that: The communist Party only spreads propaganda and decieves.
Tôi đã bỏ một nửa cuộc đời cho lý tưởng Cộng Sản
Hôm nay tôi đau buồn mà nói rằng: Đảng Cộng Sản chỉ biết tuyên truyền và dối trá
General William C. Westmoreland:
On behalf of the United States Armed Forces, I would like to apologize to the veterans of the South Vietnamese Armed Forces for abandoning you guys
Thay mặt cho quân đội Hoa Kỳ, tôi xin lỗi các bạn cựu quân nhân của Quân Lực Miền Nam Việt Nam vì chúng tôi đã bỏ rơi các bạn.
Ho Chi Minh licked the heels of Marx, Lenin and Mao
Ho Chi Minh, when alive, was merely a dog loyal to Soviet and China
Hồ Chí Minh, lúc sống, là con chó trung thành của Nga & Hoa
President Ronald Reagan:
How do you tell a communist? Well, it's someone who reads Marx and Lenin.
And how do you tell an anti-Communist? It's someone who understands Marx and Lenin.
Làm sao biết ai là CS? Đó là người đọc về Marx và Lenin.
Làm sao biết ai chống cộng? Đó là người hiểu về Marx và Lenin
TẠI SAO DÂN VIỆT NAM GỌI ĐẢNG CSVN LÀ ĐẢNG CƯỚP, HỒ CHÍ MINH LÀ HỒ TẶC?
Trong bài “Nếu dân Việt chọn một đảng chính trị” đăng trên Người-Việt Online, ông Ngô Nhân Dụng viết “Một đảng chính trị là của những đảng viên họ đồng ý với nhau về mục tiêu giành lấy quyền hành để cai trị theo chủ trương của họ.”
Dĩ nhiên cái chủ trương ấy là một cái chủ trương mà mọi đảng viên của họ cho là tốt đẹp và được nhiều người dân ủng hộ thì họ mới giành được quyền hành. Cũng như một chính trị gia, muốn thành công không những phải là người có khả năng ăn nói mà ngay cả những chương trình tranh cử của người ấy cũng phải thu hút được sự ủng hộ đông đảo của quần chúng.
Vì thế, ngay cả đảng Cộng Sản Việt Nam, là một đảng duy nhất nắm quyền cai trị, nhưng trong cương lĩnh của đảng Cộng Sản Việt Nam cũng như những chính sách mà chúng đem ra áp dụng cũng phải dựa vào long dân với những chủ trương tốt đẹp như: Cách mạng tư sản dân quyền, cách mạng ruộng đất, xã hội tự do, nam nữ bình quyền, v.v…trong cương lĩnh của đảng năm 1930 và xã hội công bằng, do nhân dân làm chủ, con người được giải phóng khỏi áp bức, bất công, có cuộc sống ấm no, hạnh phúc, có nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân v.v…trong cương lĩnh của đảng năm 1991.
Ấy vậy mà tại sao đảng Cộng Sản Việt Nam lại bị gọi là đảng cướp? Tại Sao Hồ Chí Minh, người sáng lập ra đảng Cộng sản Việt Nam lại bị nhân dân Việt Nam gọi là Hồ Tặc (Hồ Tướng Cướp)?
Mặc dầu chữ “Cướp chính quyền” không những đã được nhân dân Việt Nam dùng khi đảng Cộng Sản Việt Nam núp dưới hai chữ Việt Minh để đoạt chính quyền từ tay chính phủ Trần Trọng Kim vào ngày 2 tháng 9 năm 1945 tại quảng trường Ba Đình Hà Nội mà chính đảng Cộng Sản Việt Nam cũng dùng mấy chữ này trong các sách vở và tài liệu. Mặc dầu trong chiến dịch cải cách ruộng đất 1954, đảng Cộng Sản Việt Nam đã cướp của (tài sản và đất đai) của các điền chủ và chính bọn chúng đã giết chết hơn 170 ngàn người dân vô tội chỉ vì có vài mẫu ruộng hay vài chục mẫu ruộng.
Tết Mậu Thân năm 1968, chỉ vì không cướp được miền Nam, đảng Cộng Sản VN đã hạ lệnh giết chết trên 5 ngàn người vô tội ở Huế. Cho tới ngày 30 tháng 4 năm 1975, nhân dân Việt Nam vẫn chưa ai gọi đảng Cộng Sản Việt Nam là đảng Cướp là tại sao? Bởi vì bọn Cộng Sản Việt Nam trước năm 1954 dưới chiêu bài “Chống thực dân Pháp để giải phóng dân tộc” và sau này, trước năm 1975, với chiêu bài “Chống Mỹ cứu nước”, vẫn che giấu được cái bộ mặt tay sai của Cộng Sản Quốc Tế là Liên Sô và Trung Quốc, vẫn bịp bợm và lừa gạt được nhân dân Việt Nam là chỉ có chúng mới là người có công giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước. Vì thế nhiều người vẫn tưởng rằng chúng có chính nghĩa và những tội cướp của giết người mà bọn chúng chúng làm là đúng.
Nhưng sau tháng 4 năm 1975, đảng CSVN đã cướp 16 tấn vàng của Ngân Hàng Quốc Gia Việt Nam đem về Bắc chia nhau. Với những chính sách đổi tiền, mỗi gia đình chỉ được phép đổi có 100 ngàn đồng tiền VNCH để lấy $200 tiền VC cũng như chính sách đánh tư sản mại bản, chính sách kinh tế mới, đảng Cộng Sản VN đã cướp trắng trợn không biết là bao nhiêu tiền bạc, của cải, nhà cửa của đồng bào miền Nam và cũng kể từ đó, đảng Cộng Sản Việt Nam đã được nhân dân miền Nam gọi là đảng Cướp, thật không sai chút nào.
Ngày nay chúng (bọn CSVN) còn cướp cả đất đai của các tôn giáo như Công Giáo, Phật Giáo, Cao Đài, Hoà Hảo, Tin Lành v.v…và đất đai của nhân dân cả hai miền Nam, Bắc vì thế mới có những vụ giáo dân xứ Thái Hà biểu tình phản đối ở Hà Nội, giáo dân Tam Tòa mít-tinh cầu nguyện ở Vinh, vụ dân oan khiếu kiện ở Saigon v.v…
Trên đây chỉ là mấy vụ điển hình, nhưng hành vi cướp của, giết người của đảng CSVN rõ ràng và có ghi vào sử sách. Ngoài ra còn không biết bao nhiêu những vụ cướp của, giết người khác mà đảng CSVN đã thi hành một cách giấu diếm như thủ tiêu, thanh toán hoặc đổ cho người quốc gia hoặc đảng phái đối lập. Ngay cả những người đã nghe theo lời dụ dỗ của bọn chúng, đem tiền về làm ăn, chúng cũng không tha; nhiều người còn bị chúng bỏ tù trước khi cướp hết tài sản. Vụ gần đây nhất là vụ Bát Nhã Làng Mai ở Lâm Đồng.
Qua những sự kiện trên, đảng CSVN đã lộ nguyên hình là một đảng Cuớp không những đúng nghĩa là một đảng cướp, mà còn là một đảng cướp dã man và tàn bạo nhất thế giới. Thực vậy, các đảng cướp, thường chỉ cướp của, ít khi chúng giết người, trừ trường hợp bất khả kháng. Nhưng đảng CSVN, sau khi cướp của, nếu chúng không giết thì cũng bỏ tù.
Khi một đảng được gọi là đảng cướp, thì thủ lãnh của đảng cướp phải là một tướng cướp. Đảng CSVN đã là một đảng cướp, thì thủ lãnh của đảng CSVN, tức Hồ Chi Minh phải là một tướng cướp. Do đó người dân Việt Nam thường gọi Hồ Chí Minh là Hồ Tặc, nhiều người còn gọi ông Hồ là Dâm Tặc. Điều này thật cũng không có gì là quá đáng vì chính Hồ Chí Minh cũng đã từng cướp của giết người.
Thực vậy, năm 1945, sau khi cướp được chính quyền, ông Hồ tổ chức một tuần lễ vàng, lấy lý do là để mua khí giới. Nhưng ông Hồ đã cướp đi số vàng này đem hối lộ tướng Tầu là Lữ Hán để y không cung cấp vũ khi cho các đảng phái quốc gia VN. Ngoài vụ cướp số vàng này, số vàng của nhân dân cúng để mua vũ khí chống Pháp, ông Hồ còn phạm tội giết người, đó là giết Nông Thị Xuân, một người làm của ông để che giấu tội lợi dụng quyền hành để hãm hiếp người làm tới có con.
Không những cướp của, giết người, ông Hồ còn cướp cả vợ của đàn em là Nguyễn thị Minh Khai, vợ của Lê Hồng Phong và cướp cả trinh tiết của không biết bao nhiêu là cháu ngoan Bác Hồ. Trong bài “Lần gặp bác Hồ, tôi bị mất trinh”, chị Huỳnh Thị Thanh Xuân ở Quảng Nam cho biết, năm 1964, chị và một số các em thiếu nhi tuổi vào khoảng 14, 15 được cơ quan và Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam cho ra Bắc thăm bác Hồ. Khi gặp bác, bác đã ôm hôn mỗi ngưới một cái. Riêng chị, bác không những đã hôn môi chị mà lưỡi của bác còn ngoáy ngoáy trong miệng của chị. Sau chị đã được bác dẫn tới phòng chiếu phim để coi phim cùng mọi người. Chị được ngồi cạnh bác. Một tay bác choàng lên vai chị còn tay kia bác xoa lên bộ ngực mới lớn của chị và tối hôm đó, chị đã được đưa tới phòng riêng của bác. Gặp chị, bác như con hổ đói và bác đã cướp đi mất cái trong trắng và qúi giá nhất của đời người con gái của chị. Bởi thế mới có người nói:
"Bác Hồ rồi lại Bác Tôn,
Cả hai Bác thích ôm hôn nhi đồng.
Nước da các Bác màu hồng,
Nước da các cháu nhi đồng màu xanh.
Giữa hai cái mặt bành bành,
Những khăn quàng đỏ chạy quanh cổ cò"!
Tóm lại, đảng CSVN đúng là một đảng Cướp và Hồ Chí Minh đúng là Hồ Tặc. Trong lịch sử thế giới, nói chung, lịch sử Việt Nam, nói riêng, chưa hề có một đảng chính trị nào bị gọi là đảng cướp và cũng chưa hề có một vị Vua nào hay một vị Tổng Thống nào bị chính dân của mình gọi Tặc trừ đảng Cộng Sản Việt Nam và Hồ Chí Minh. Không những thế, ngày nay, nhiều người còn gọi Hồ Chí Minh là Thằng, thằng Hồ Chí Minh và coi ông Hồ Chí Minh như cái bộ phận sinh dục của người đàn ông như trong bài thơ sau:
Một năm hai thước vải thô,
Nếu đem may áo cụ Hồ ló ra.
May áo thì hở lá đa,
Chị em thiếu vải hoá ra lõa lồ.
Vội đem cất ảnh bác Hồ,
Sợ rằng bác thấy tô hô bác thèm.
Vậy mà bọn Cộng Sản Việt Nam vẫn luôn luôn hô hào phải học tập tư tưởng Hồ Chí Minh, và phải noi theo đạo đức Hồ Chí Minh. Thảo nào bọn Cộng Sản VN càng học tập tư tưởng HCM bao nhiêu và noi gương đạo đức HCM bao nhiêu thì bọn chúng lại càng tham nhũng, gian ác, dối trá, đồi bại và hủ hoá bấy nhiêu.
Lê Duy San
Giữa hai cái mặt bành bành,
Những khăn quàng đỏ chạy quanh cổ cò"!
Tóm lại, đảng CSVN đúng là một đảng Cướp và Hồ Chí Minh đúng là Hồ Tặc. Trong lịch sử thế giới, nói chung, lịch sử Việt Nam, nói riêng, chưa hề có một đảng chính trị nào bị gọi là đảng cướp và cũng chưa hề có một vị Vua nào hay một vị Tổng Thống nào bị chính dân của mình gọi Tặc trừ đảng Cộng Sản Việt Nam và Hồ Chí Minh. Không những thế, ngày nay, nhiều người còn gọi Hồ Chí Minh là Thằng, thằng Hồ Chí Minh và coi ông Hồ Chí Minh như cái bộ phận sinh dục của người đàn ông như trong bài thơ sau:
Một năm hai thước vải thô,
Nếu đem may áo cụ Hồ ló ra.
May áo thì hở lá đa,
Chị em thiếu vải hoá ra lõa lồ.
Vội đem cất ảnh bác Hồ,
Sợ rằng bác thấy tô hô bác thèm.
Vậy mà bọn Cộng Sản Việt Nam vẫn luôn luôn hô hào phải học tập tư tưởng Hồ Chí Minh, và phải noi theo đạo đức Hồ Chí Minh. Thảo nào bọn Cộng Sản VN càng học tập tư tưởng HCM bao nhiêu và noi gương đạo đức HCM bao nhiêu thì bọn chúng lại càng tham nhũng, gian ác, dối trá, đồi bại và hủ hoá bấy nhiêu.
Lê Duy San
Subscribe to:
Comments (Atom)